Cây xanh và thảm thực vật có thể làm mát thành phố lên đến 5 độ C thông qua cơ chế tạo bóng mát và thoát hơi nước, giảm 30 ngày nắng nóng cực đoan, theo RMIT.
Tháng trước, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia thông báo hiện tượng El Nino đạt cường độ rất mạnh. Theo đó, mùa đông được dự báo nóng hơn 1-2,5 độ C, còn mùa hè sẽ ghi nhận các đợt nắng nóng mạnh và kéo dài, khả năng vượt kỷ lục từng ghi nhận.
Theo nghiên cứu về khả năng chống chịu của đô thị trước nắng nóng do trường đại học RMIT công bố ngày 27/10, các khu vực trung tâm đô thị có mật độ bê tông hóa cao sẽ chịu nắng nóng lớn nhất, có thể lên tới 100 ngày sóng nhiệt mỗi mùa. Nếu không có giải pháp can thiệp, số ngày nắng nóng có thể tăng thêm 40-60 ngày một năm vào giữa thế kỷ.
Trước nguy cơ nắng nóng cực hạn, giải pháp dựa vào thiên nhiên có thể giúp giảm nhiệt đô thị. Theo kết quả mô phỏng của TS Trần Đức Trinh, giảng viên cấp cao của RMIT, cùng các đối tác trong khu vực, gia tăng mảng xanh và bề mặt thẩm thấu nước giúp giảm 24-30 ngày nắng nóng cực đoan mỗi năm

Giải pháp dựa vào thiên nhiên (nature-based solutions – NBS) là việc tận dụng, khôi phục hệ sinh thái tự nhiên, nhằm giải quyết thách thức đô thị (như nắng nóng cực đoan), đồng thời mang lại lợi ích cho sức khỏe con người và đa dạng sinh học. Trong quy hoạch hạ tầng chống chịu nhiệt đô thị, giải pháp NBS bao gồm nhóm công trình xanh lơ (mặt nước) và xanh lá (cây trồng).
Trong nhóm xanh lá, cây xanh và thảm thực vật có thể làm mát các thành phố lên đến 5 độ C thông qua cơ chế tạo bóng mát và thoát hơi nước. Thảm cỏ được tưới nước có thể giúp giảm nhiệt độ không khí khoảng 0,5 độ C và nhiệt độ bề mặt lên đến 20 độ C. Nhiệt độ bề mặt thường có mức chênh lệch lớn với nhiệt độ không khí vào ban ngày, do sự khác biệt mặt tiếp xúc (ví dụ bê tông và thảm cỏ).
Bên cạnh đó, các thảm thực vật lên mái hay ban công sẽ tạo vùng đệm xanh, chắn bức xạ mặt trời, giảm tích tụ nhiệt bề mặt.
Với nhóm xanh lơ, việc mở rộng các bề mặt thẩm thấu và hoạt động tưới nước giúp cải thiện nhiệt trong các đợt nắng nóng. Trong đó, ao, hồ giữ vai trò như “bể hấp thụ nhiệt”, đồng thời hạ nhiệt độ vùng xung quanh nhờ liên tục bốc hơi nước. Hệ thống thu giữ nước mưa giúp bổ sung nguồn tưới tiêu, giúp duy trì độ ẩm cho khu vực thảm cỏ và cây xanh

Tuy nhiên, nhóm tác giả chỉ ra rằng các giải pháp tự nhiên không thể bù đắp hoàn toàn tình trạng tăng nhiệt trong tương lai. Ngoài ra, hiệu quả của giải pháp xanh còn tùy thuộc vào bối cảnh, năng lực duy trì. Ví dụ, mái xanh trên tòa nhà cao tầng mang lại rất ít lợi ích cho không gian đường phố, và suy giảm khả năng làm mát nếu thiếu hoạt động chăm sóc, bảo dưỡng. Còn công viên, vùng mặt nước chỉ tạo hiệu ứng làm mát cục bộ, với phạm vi 50-150 m theo hướng gió.
Do đó, các khu vực được dự báo nắng nóng gay gắt cần chiến lược thích ứng nhiệt toàn diện, thay vì một vài giải pháp đơn lẻ.
Cũng theo nhóm tác giả, không phải mọi khu vực đều hứng chịu cùng một nền nhiệt. Ví dụ tại Việt Nam, giai đoạn 1981-2018, khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và Đông Nam Bộ chịu mức tăng nhiệt mạnh nhất. Do đó, việc xác định khu vực chịu nắng nóng giúp tăng hiệu quả làm mát khi ứng dụng giải pháp tự nhiên, thay vì tập trung trồng cây xanh ở nơi đất trống.
Kết hợp dữ liệu nhiệt độ với thông tin xã hội và kinh tế, TS Trinh và nhóm nghiên cứu chỉ ra nhóm dễ tổn thương trong nắng nóng cực đoan là hộ thu nhập thấp, người cao tuổi, khuyết tật và những người sống trong khu nhà tạm bợ. Đa số thiếu thốn nguồn lực để ứng phó với nền nhiệt tăng cao.
Theo TS Trinh, nhóm tác giả sẽ tiếp tục tìm hiểu tác động của nền nhiệt đô thị lên sức khỏe, năng suất lao động và bất bình đẳng trong tiếp cận giải pháp làm mát và không gian xanh tại Việt Nam và Đông Nam Á.






Hãy là người đầu tiên chia sẻ góc nhìn về bài viết này.