Nhận hàng chục tin nhắn mừng sinh nhật có cùng cấu trúc câu do trí tuệ nhân tạo (AI) viết, anh Hoàng Minh tắt điện thoại vì thấy hụt hẫng.
Anh Minh, 35 tuổi, làm việc trong ngành giáo dục tại Hà Nội, cho biết hai năm nay hiếm khi nhận được một lời chúc tự viết từ bạn bè. Những dịp lễ, Tết hay sinh nhật, hộp thư của anh đầy những đoạn văn chung kịch bản, câu chữ trau chuốt nhưng rập khuôn.
“Đọc vài dòng tôi đã nhận ra văn phong của ChatGPT. Cách giao tiếp này khiến người nhận có cảm giác không được coi trọng”, anh Minh nói.
Anh cảm thấy mình đang bị AI bủa vây trong mọi trong sinh hoạt và công việc hàng ngày. Lên mạng xã hội, anh liên tục gặp các bài đăng có cùng một kiểu mở đầu, hình ảnh nhân vật đồng loạt giống nhau hoặc tin nhắn trả lời tự động từ người bán hàng. Trong công việc, cấp dưới gửi bản giới thiệu sản phẩm hay bài viết truyền thông, anh Minh đọc vài dòng đã phát hiện dấu vết AI. Việc của anh là kiểm duyệt dữ liệu, sau đó yêu cầu nhân viên trau chuốt lại.
Tâm lý dị ứng với AI của anh Minh tăng lên khi thấy con trai học lớp 6 lệ thuộc vào công nghệ. Mỗi lần bí tưởng làm văn, cậu bé lại gõ câu lệnh nhờ máy viết hộ và từng nhận điểm 6 kèm lời phê của giáo viên: “Đề nghị phụ huynh không cho con sử dụng AI để làm bài”. Ở môn Hình học, giáo viên chủ nhiệm cũng phản ánh tình trạng nhiều học sinh nộp lời giải có đáp án đúng nhờ AI nhưng không vẽ hình hay hiểu cách lập luận, buộc nhà trường phải cấm sử dụng khi làm bài tập. “Trẻ chỉ gõ lệnh rồi chép lại mà không suy nghĩ sẽ dần mất khả năng tư duy độc lập”, anh Minh nói.

Tại TP HCM, chị Thùy Như, 28 tuổi, nhân viên thiết kế đồ họa, cũng giảm một nửa số lần ghé quán cà phê quen từ ngày nơi này chuyển sang phát nhạc do AI sáng tác để tránh phí bản quyền. Theo chị, âm nhạc cần sự trải nghiệm của người nghệ sĩ thay vì những giai điệu đều đều do máy móc phối tự động.
Trong công việc, chị Như thường xuyên tiếp xúc với các mẫu quảng cáo, thực đơn hàng quán hoặc ảnh đại diện ghép mặt bằng AI với chi tiết sai lệch. Không chỉ mệt mỏi về mặt thị giác, nữ nhân viên thiết kế còn nhiều lần bị khách hàng ép giá với lý do “gõ vài câu lệnh là máy làm xong trong 5 giây, sao lấy công đắt thế?”.
Tâm lý e ngại hoặc khước từ các sản phẩm tự động như anh Minh, chị Như được giới tâm lý học quốc tế định danh là hội chứng “bội thực AI” (AI fatigue). Đây là trạng thái quá tải nhận thức khi não bộ liên tục bị bủa vây bởi các nội dung tổng hợp hàng loạt nhưng thiếu chiều sâu, thường gọi là “rác AI” (AI slop).
Khảo sát quý I của nền tảng quản trị mạng xã hội Sprout Social (Mỹ) cho thấy 56% người dùng toàn cầu thường xuyên chạm mặt các nội dung rập khuôn này trên bảng tin mỗi ngày. Hệ quả là sự hoài nghi tăng lên: báo cáo xu hướng tiêu dùng năm nay của nền tảng dữ liệu Klaviyo ghi nhận 39% người được hỏi giảm niềm tin ngay khi phát hiện bài viết, hình ảnh hay tin nhắn được tạo bằng công cụ tự động thay vì do con người thực hiện.
Làn sóng “bội thực” này diễn ra ngay trong giai đoạn các công cụ tạo sinh mở rộng quy mô nhanh nhất. Theo báo cáo Digital 2027 do We Are Social và Meltwater công bố ngày 21/10, thế giới hiện có 3,24 tỷ người dùng các nền tảng AI tạo sinh mỗi tháng, tương đương 38,9% dân số toàn cầu, tăng hơn 57% sau một năm; riêng ChatGPT vượt mốc 1,2 tỷ người dùng hàng tuần. Tại Việt Nam, báo cáo của Viện Kinh tế AI thuộc Microsoft ghi nhận tỷ lệ người lao động ứng dụng công nghệ này đạt 26,5% trong quý I, cao hơn mức trung bình toàn cầu (16,3%).
Tuy nhiên, tốc độ phổ cập công nghệ lại tỷ lệ nghịch với sự thoải mái trong tâm lý người dùng. Khảo sát WIN AI Index công bố tháng 6 tại Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng và Cần Thơ cho thấy mức độ thoải mái của người Việt với AI giảm mạnh nhất trong các chỉ số đo lường, từ 49,3 điểm (năm 2025) xuống 40,7 điểm (thang 100 điểm) trong năm nay. Nói cách khác, cảm giác “dị ứng với AI” của người Việt đang tăng mạnh.
Ông Trần Đức Anh, Giám đốc Monster Lab Academy, Chủ nhiệm ngành Thiết kế đồ họa (Hà Nội), cho biết sự phủ sóng của AI trong mọi lĩnh vực từ viết lách, thiết kế đến quản trị đang tạo ra phản ứng phòng vệ ngược ở một bộ phận công chúng.
“Nhiều người hiện nay đọc bài viết hay, xem bức ảnh đẹp hay bản phân tích sâu đều đặt câu hỏi có phải do máy làm không, thậm chí đánh giá thấp công sức của người thực hiện nếu biết có sự can thiệp của công nghệ”, ông Đức Anh nói.
Theo ông, tâm lý phản ứng này bộc lộ rõ ở bốn nhóm: giao tiếp cá nhân mất đi sự chân thành vì tin nhắn soạn sẵn; sản phẩm văn hóa – giải trí thiếu cảm xúc con người; nhân sự công sở lạm dụng công cụ tạo ra sản phẩm bóng bẩy nhưng sáo rỗng; và dịch vụ khách hàng dùng chatbot tự động trả lời vòng vo.
Đồng quan điểm, thạc sĩ Nguyễn Xuân Thương, chuyên gia Tâm lý học Sức khỏe Tâm thần Lâm sàng, Đại học College London, Anh, lý giải thái độ từ chối AI bắt nguồn từ bốn nguyên nhân: nỗi sợ mất việc, máy móc thiếu sự thấu cảm ngữ cảnh cá nhân, nguy cơ lộ dữ liệu và định kiến công nghệ sẽ thay thế con người.
“Khảo sát cho thấy nhóm có học vấn cao sử dụng AI nhiều hơn, nhưng cũng là những người lo ngại rõ rệt hơn về tác động của nó đến sự nghiệp”, bà Thương cho biết.
Ở góc độ sức khỏe tinh thần, thạc sĩ tâm lý Hoàng Hà (Hà Nội) nhận định phản xạ nghi ngờ ban đầu giúp người dùng nhận diện tin giả và giữ tư duy độc lập. Song nếu duy trì trạng thái cảnh giác liên tục, não bộ sẽ quá tải vì phải phân định thật – giả, dẫn đến “kiệt quệ nhận thức” và đứt gãy kết nối xã hội.
Thực tế, chị Thùy Như luôn giữ tâm lý đề phòng mỗi khi xem video giải trí hay đặt đồ ăn trực tuyến. Chị tạo thói quen soi kỹ bàn tay nhân vật trong clip, tìm các chi tiết méo mó của bối cảnh và đọc bình luận chụp ảnh thật của người mua trước khi đặt hàng.
“Tôi không phủ nhận lợi ích của công nghệ, chỉ phản cảm với cách nhiều người dùng nó để làm giả những thông tin đời thường”, Như nói.
Còn anh Hoàng Minh chọn cách để lại bình luận cảnh báo dưới các video TikTok dùng AI làm giả quy trình chế tác đồ thủ công để người xem khác không bị lừa.

Theo ông Trần Đức Anh, rủi ro lớn hơn của việc lạm dụng AI là hiện tượng “ảo giác thông tin” được ngụy trang bằng văn phong thuyết phục. Ông dẫn chứng khi tải ảnh bức tượng thần biển Poseidon lên ChatGPT, công cụ này từng khẳng định đó là tượng “anh hùng Hercules” kèm những lập luận nghe rất hợp lý. Nếu thiếu kiến thức nền tảng, người dùng, đặc biệt là học sinh, dễ tin theo các dữ liệu sai lệch này.
Một khảo sát quốc tế của đơn vị xác thực sinh trắc học iProov được dẫn lại tại Việt Nam hồi tháng 7 cho thấy, chỉ 0,1% người tham gia nhận diện đúng toàn bộ video, hình ảnh giả do AI tạo ra; trong khi tỷ lệ gian lận deepfake toàn cầu đã tăng từ 0,1% (năm 2022) lên 6,5% trong năm nay.
Để vượt qua trạng thái “bội thực AI”, các chuyên gia tâm lý khuyến nghị người dùng chủ động thiết lập ranh giới sử dụng: dùng công nghệ cho các tác vụ tra cứu, tổng hợp kỹ thuật nhưng giữ “vùng không AI” trong giao tiếp tình cảm và rèn luyện tư duy của trẻ nhỏ.
Ở góc độ quản lý, ông Đức Anh cho rằng thay vì cấm đoán cực đoan trong trường học hay công sở, các tổ chức cần ban hành bộ quy tắc đạo đức và hướng dẫn người dùng kiểm chứng chéo dữ liệu.
“Công nghệ bản chất là công cụ hỗ trợ, vấn đề nằm ở trách nhiệm và sự tôn trọng của người dùng đối với người tiếp nhận sản phẩm”, ông Đức Anh nói.






Hãy là người đầu tiên chia sẻ góc nhìn về bài viết này.