MỹMắc bệnh khiến cơ thể mất khả năng chống nhiễm trùng, David Vetter sống 12 năm trong bong bóng nhựa vô trùng rồi qua đời vì biến chứng ung thư sau ca ghép tủy.
David Vetter chào đời ngày 21/9/1971 tại Bệnh viện Nhi đồng Texas, mang hội chứng suy giảm miễn dịch kết hợp trầm trọng (SCID). Căn bệnh khiến cơ thể cậu thiếu hụt tế bào T và tế bào B, hai loại bạch cầu giữ vai trò phòng vệ, nên David mất khả năng chống nhiễm trùng. Với cậu, một trận cảm cúm thông thường cũng đủ gây tử vong.
Để sống sót, David phải ở trong buồng cách ly vô trùng. Cậu chỉ chạm tới thế giới bên ngoài qua lớp nhựa trong suốt, nên công chúng Mỹ gọi cậu là “Cậu bé trong bong bóng”.

Không gian sống của David nới rộng dần theo năm tháng. “Ban đầu, David chỉ có một buồng bong bóng, sau đó thành hai”, bà Carol Ann Vetter, mẹ cậu, kể.
Về sau, cậu có cả một phòng chơi. “Ở đó, con di chuyển rất linh hoạt. Chúng tôi chơi tung bóng hay trốn tìm cùng David”, bà nhớ lại. Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) còn thiết kế riêng cho cậu bộ đồ cách ly giống trang phục phi hành gia, giúp cậu đi lại thoải mái hơn.
Câu chuyện của David cuốn hút dư luận Mỹ. Bà Vetter nhớ lúc con trai nhận ra mình nổi tiếng: “Thằng bé bảo nó là ngôi sao vì ảnh của nó lên báo hôm trước, mà ngôi sao thì không phải dọn đồ chơi. Tôi liền bảo hôm nay ảnh con không có trên báo nên con phải dọn phòng”.

Năm David 7 tuổi, bác sĩ William T. Shearer, Trưởng khoa Dị ứng và Miễn dịch Bệnh viện Nhi đồng Texas, tiếp nhận ca bệnh. Ông kể cậu bé xỏ tay vào chiếc găng nối từ buồng nhựa để bắt tay, rồi “vặn hỏi để chắc rằng tôi hiểu cậu rất đặc biệt và tôi đủ năng lực chăm sóc cậu”.
Theo ông, cậu bé 7 tuổi thông minh, sở hữu vốn từ phong phú hiếm thấy ở trẻ cùng tuổi và ham học. “Cậu bé dũng cảm trước hoàn cảnh của mình, kiên cường chống lại mầm bệnh và luôn mang nét hóm hỉnh làm bừng sáng cả phòng bệnh”, ông nói.
Các bác sĩ sau đó thử một phương pháp giúp David thoát khỏi chiếc bong bóng. Họ kỳ vọng ca ghép tủy xương sẽ giúp cơ thể cậu tự xây dựng hệ miễn dịch. “Bác sĩ nói ca ghép hiệu quả tốt, an toàn tới 99%. Họ giải thích ca ghép chỉ có thể thành công hoặc không; nếu không, chúng tôi đơn giản trở lại vạch xuất phát”, bà Carol Ann kể trên kênh PBS.
Ngày 21/10/1983, David nhận tủy xương từ chị gái Katherine. Dù vẫn trong buồng vô trùng, cậu phối hợp với y bác sĩ, tự tiêm thuốc cho mình.
Nhưng đến Giáng sinh, sức khỏe David xấu đi nhanh. Mẫu tủy của người chị chưa được sàng lọc virus Epstein-Barr, một loại virus phổ biến thường không gây triệu chứng ở người khỏe mạnh. Ở cơ thể không có hệ miễn dịch như David, virus này kích hoạt một dạng ung thư hạch (lymphoma).

Khi kiệt sức, cậu nói với mẹ: “Con mệt lắm. Hay mình rút hết dây truyền ra để con về nhà?”. Ngày 7/2/1984, trước tiên lượng xấu, các bác sĩ đưa David ra khỏi buồng cách ly. Lần đầu tiên trong đời, cậu được người thân ôm trực tiếp.
Ngày 22/2, David trăng trối. Cậu nhắn chuyên gia tâm lý Mary Murphy lúc cô chuẩn bị rời đi: “Hãy nhớ cháu yêu cô, Mary. Tạm biệt cô”. Rồi cậu quay sang mẹ: “Con cũng yêu mọi người”. Bà Carol Ann tháo khẩu trang, trao con nụ hôn đầu tiên. Ít phút sau, David qua đời ở tuổi 12.
“David là cậu bé phi thường. Di sản của cậu góp phần vào những bước tiến y học lớn hơn, và cuộc đời tôi đổi thay nhờ David cùng gia đình cậu”, bác sĩ Shearer viết. Bệnh viện Nhi đồng Texas sau đó lập Trung tâm David ngay tại viện để vinh danh cậu bé.

Bình Minh (Theo People, ABC News)






Hãy là người đầu tiên chia sẻ góc nhìn về bài viết này.