Khí clo có thể gây bỏng hóa chất đường hô hấp, phù phổi và suy hô hấp, triệu chứng tiếp tục tiến triển nhiều giờ sau khi rời khỏi vùng khí độc.
40 người ngộ độc ở xã Thượng Phúc, Thường Tín (Hà Nội) do hít phải khí clo xì ra từ bình hóa chất của một gia đình thu mua phế liệu. Đây là lần đầu tiên xảy ra tình huống ngộ độc tập thể do khí clo bình phế liệu.
Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, thành viên Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam, cho biết clo được sử dụng rộng rãi trong khử khuẩn nước, sản xuất hóa chất và công nghiệp. Tuy nhiên, ở dạng khí, chất này có độc tính cao khi hít phải.
Clo là khí màu vàng lục, mùi hắc, gây cay mắt và xộc mũi. Khi tiếp xúc với độ ẩm trên niêm mạc mắt và đường hô hấp, clo phản ứng tạo thành các chất có tính axit và oxy hóa mạnh, làm tổn thương tế bào. “Đây không đơn thuần tình trạng kích ứng do mùi khó chịu mà có thể là tổn thương hóa chất thực sự”, bác sĩ Hoàng giải thích.
Ở mức độ nhẹ, người tiếp xúc khí clo có thể cay mắt, chảy nước mắt, rát họng, ho hoặc tức ngực. Trường hợp nặng hơn, clo gây co thắt phế quản, phù nề đường thở và tổn thương sâu đến phế nang – nơi trao đổi oxy giữa phổi và máu. Khi hàng rào bảo vệ phế nang bị tổn thương, dịch tràn vào các túi khí, gây phù phổi. Người bệnh khi đó khó thở dữ dội, thiếu oxy và suy hô hấp, cần được cấp cứu, thậm chí đặt nội khí quản và thở máy.
Một đặc điểm nguy hiểm là triệu chứng không phải lúc nào cũng xuất hiện đầy đủ ngay lập tức. Người ban đầu chỉ ho, rát họng hoặc thấy khó chịu có thể khó thở tăng dần sau vài giờ. Vì vậy, giảm cay mắt hay bớt ho không đồng nghĩa đã hết nguy hiểm.
Bác sĩ Hoàng cho hay mức độ tổn thương phụ thuộc vào nồng độ clo trong không khí, thời gian tiếp xúc, khoảng cách đến nguồn rò rỉ và tình trạng sức khỏe của từng người. Nồng độ cao có thể gây tổn thương nghiêm trọng chỉ trong thời gian ngắn.
Các tài liệu độc chất học ghi nhận nồng độ khoảng 1-10 ppm có thể gây kích ứng mắt, mũi, họng và ho. Ppm là đơn vị nồng độ, hiểu đơn giản là số phần khí clo trong một triệu phần không khí. Khi nồng độ cao hơn, nguy cơ co thắt đường thở và phù phổi tăng lên.
ATSDR, cơ quan nghiên cứu độc chất của Mỹ, ước tính hít khoảng 430 ppm khí clo trong 30 phút có thể gây tử vong. Song, đây là dữ liệu tham khảo, không phải giới hạn an toàn hay thời gian đếm ngược cho từng người.
“Chúng ta không thể ngửi khí để biết nồng độ, cũng không thể dựa vào mức độ chịu đựng để quyết định ở lại thêm”, bác sĩ Hoàng nói, khuyến cáo khi xuất hiện triệu chứng cay mắt, ho sặc hoặc khó thở trong vùng nghi có khí độc, cần rời nguồn phơi nhiễm ngay, không cố làm nốt việc.
Khí clo nặng hơn không khí, có thể tích tụ tại hố, rãnh, tầng hầm và những nơi kín, thông gió kém. Do đó khi xảy ra rò rỉ, bạn chui xuống chỗ thấp hoặc đi vào khu vực trũng để tránh khí nhưng lại khiến mức phơi nhiễm tăng lên.
Trẻ nhỏ, người mắc hen, bệnh phổi mạn tính hoặc bệnh tim cần được chú ý đặc biệt do nguy cơ diễn biến nặng hơn. Sau giai đoạn cấp, một số người còn ho kéo dài, khò khè hoặc tăng nhạy cảm với khói thuốc, bụi và không khí lạnh.
Các biểu hiện thường gặp khi hít phải khí clo gồm cay đỏ mắt, chảy nước mắt, rát mũi họng, ho, tức ngực, khò khè và khó thở. Một số người có thể buồn nôn hoặc nôn. Nếu khó thở tăng nhanh, thở rít, khàn tiếng rõ, môi tím, lú lẫn, ngất hoặc ho ra đờm bọt hồng, người bệnh cần được cấp cứu ngay.
BSCKI Phạm Ngọc Minh – Khoa Khám bệnh – Bệnh viện Đa Khoa Phương Đông, cho hay về điều trị, hiện nay chưa có thuốc giải độc đặc hiệu đối với khí clo. Nguyên tắc quan trọng nhất là nhanh chóng chấm dứt phơi nhiễm, đánh giá và bảo đảm đường thở, hô hấp, tuần hoàn.
Tại khoa cấp cứu, bác sĩ sẽ đánh giá tình trạng hô hấp, đo SpO2, theo dõi các dấu hiệu suy hô hấp; chỉ định khí máu động mạch, Xquang phổi hoặc các thăm dò khác khi cần thiết. Người bệnh giảm oxy máu được hỗ trợ oxy phù hợp. Nếu có co thắt phế quản, bác sĩ sử dụng thuốc giãn phế quản dạng khí dung. Trường hợp suy hô hấp nặng có thể cần hỗ trợ hô hấp không xâm nhập hoặc đặt nội khí quản, thở máy xâm nhập với chiến lược bảo vệ phổi. Corticosteroid và kháng sinh không phải là các thuốc được chỉ định thường quy cho mọi trường hợp ngộ độc khí clo.
Việc sử dụng cần căn cứ vào tình trạng lâm sàng và các bệnh lý phối hợp. Một điểm chúng tôi đặc biệt lưu ý trong thực hành cấp cứu là không đánh giá mức độ nặng chỉ dựa vào triệu chứng ở thời điểm ban đầu. Những bệnh nhân có biểu hiện hô hấp đáng kể hoặc nghi ngờ phơi nhiễm nồng độ cao cần được theo dõi tại cơ sở y tế để phát hiện sớm tổn thương phổi tiến triển.

Làm gì khi nghi ngộ độc khí clo?
Ưu tiên hàng đầu là rời khỏi nguồn khí độc mà không khiến bản thân và người khác phơi nhiễm thêm, cần di chuyển đến nơi có không khí sạch. Nếu khí rò rỉ trong nhà, nhanh chóng rời khỏi khu vực nếu có thể làm vậy an toàn. Không quay lại lấy đồ, tìm nguồn rò rỉ hoặc cúi xuống ngửi thử. Với sự cố ngoài trời, hãy tuân thủ hướng dẫn sơ tán hoặc trú ẩn của cơ quan chức năng; không mặc định hướng nào cũng an toàn.
Không tự ý vào cứu người trong vùng khí độc. Khẩu trang vải, khẩu trang y tế, khăn ướt và N95 thông thường không bảo vệ được bạn trước khí clo. Muốn tiếp cận vùng rò khí, cần lực lượng được huấn luyện và trang bị thiết bị thở phù hợp.
Rửa mắt nếu bị kích ứng bằng cách dùng nước sạch, dòng chảy nhẹ, liên tục ít nhất 15 phút; tháo kính áp tròng nếu có và dễ tháo. Không dụi mắt, không tự nhỏ thuốc hoặc dùng hóa chất để trung hòa. Cởi bỏ quần áo nhiễm bẩn, rửa da bằng nhiều nước và xà phòng dịu nhẹ.
Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho clo. Cách điều trị phụ thuộc mức độ tổn thương. Bệnh nhân có thể cần theo dõi oxy máu, chụp hình phổi hoặc hỗ trợ hô hấp. Sau khi được khám, nếu ho tăng, tức ngực hoặc khó thở xuất hiện trở lại, người bệnh cần đến cơ sở y tế ngay.






Hãy là người đầu tiên chia sẻ góc nhìn về bài viết này.