TP HCMÔng Tài, 60 tuổi, đau thắt ngực do tắc hẹp mạch máu nuôi tim, được bác sĩ phẫu thuật bắc cầu mạch vành khi tim vẫn đập.
BS.CKI Bùi Châu Hiển Đăng, khoa Ngoại Tim mạch, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu. Hình ảnh chụp mạch vành ghi nhận tắc hoàn toàn hai động mạch chính bên trái (động mạch liên thất trước và động mạch mũ), chỉ còn động mạch vành bên phải nuôi tim nhưng bị phình ở đoạn gần, hẹp ở đoạn xa.
Chỉ số Syntax Score dùng để đánh giá mức độ phức tạp về mặt giải phẫu của tổn thương mạch vành là 38, thuộc nhóm tổn thương động mạch vành có mức độ phức tạp cao, khó can thiệp đặt stent vì không đảm bảo an toàn. Do đó, phẫu thuật bắc cầu mạch vành là lựa chọn tối ưu.
ThS.BS Trần Thúc Khang, Phó khoa Ngoại Tim mạch, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết phẫu thuật bắc cầu mạch vành hiện có hai kỹ thuật là dùng máy tim phổi nhân tạo và không dùng máy tim phổi nhân tạo. Mỗi kỹ thuật có những chỉ định, ưu điểm và hạn chế riêng.
Kỹ thuật bắc cầu mạch vành không dùng máy tim phổi nhân tạo giúp giảm nguy cơ và biến chứng liên quan đến tuần hoàn ngoài cơ thể, chảy máu… Tuy nhiên, đây là kỹ thuật cao, phẫu thuật viên phải khâu các mạch máu ghép vào mạch vành trong lúc trái tim đang đập. Quá trình vén tim, cố định tim trong khi mổ dễ làm thay đổi huyết động người bệnh, đòi hỏi kíp gây mê có chuyên môn sâu và phối hợp nhịp nhàng với phẫu thuật viên.

Êkíp phẫu thuật bắc ba cầu nối mạch vành: từ động mạch chủ đến nhánh liên thất trước bằng động mạch ngực trong trái, nhánh chéo (diagonal 1) và nhánh liên thất sau bằng một đoạn tĩnh mạch tự thân lấy ở cẳng chân người bệnh. Sau mổ, ba cầu nối đều thông tốt, dòng máu nuôi tim hoạt động bình thường trở lại.
Bệnh nhân cải thiện nhanh triệu chứng đau thắt ngực. Hậu phẫu thuận lợi, siêu âm tim ghi nhận chức năng co bóp của tim được bảo tồn, không rối loạn vận động vùng, không tràn dịch màng tim, màng phổi.
Bệnh ba nhánh mạch vành xảy ra khi cả ba nhánh chính của hệ thống mạch vành (mạch máu nuôi cơ tim) bị hẹp nặng hoặc tắc do mảng xơ vữa tích tụ trên thành động mạch. Tình trạng này làm giảm lưu lượng máu đến tim, tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, suy tim và các biến chứng khác. Hút thuốc, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì, ít vận động… có thể làm tăng khả năng hình thành mảng xơ vữa.
Phương pháp điều trị bệnh hẹp, tắc mạch vành phụ thuộc vào mức độ tổn thương, biểu hiện lâm sàng và tình trạng tổng thể của người bệnh, gồm nội khoa, can thiệp đặt stent hoặc phẫu thuật bắc cầu mạch vành.
Kỹ thuật bắc cầu mạch vành không dùng tuần hoàn ngoài cơ thể là lựa chọn tối ưu cho nhóm bệnh nhân tắc hẹp mạch máu phức tạp không thể đặt stent, tiền sử đột quỵ, suy thận, bệnh phổi mạn tính. Việc lựa chọn còn phụ thuộc vào đặc điểm tổn thương mạch vành, chức năng tim, phẫu thuật kèm theo như thay van, sửa van tim… và kinh nghiệm của êkíp phẫu thuật – gây mê hồi sức.
Bác sĩ Khang khuyến cáo người có triệu chứng đau thắt ngực, nặng ngực, khó thở, nhất là khi có nhiều yếu tố nguy cơ, nên khám chuyên khoa tim mạch để xác định nguyên nhân và điều trị kịp thời.
* Tên người bệnh đã được thay đổi




Hãy là người đầu tiên chia sẻ góc nhìn về bài viết này.